Nói với người cộng sản 24.01.2016

Sau đây, mời quý thính giả theo dõi chuyên mục "Nói với người cộng sản". Đây là diễn dàn để trình bày với các đảng viên đảng CSVN, đặc biệt những người đang phục vụ trong guồng máy công an và bộ đội của chế độ hiện hành. "Nói với người cộng sản" do Tiến Văn biên soạn, qua sự trình bày của Hải Nguyên.

Ngọc Hân công chúa

Kính thưa quý thính giả, Triều đình Tây Sơn ngắn ngủi nhưng lắm oai hùng và bi thương, trong đó phải kể đến mối tình của người anh hùng áo vải và một nàng công chúa. Nàng công chúa này trở thành một vị hoàng hậu nổi tiếng trong lịch sử về tài sắc vẹn toàn. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt", chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Ngọc Hân công chúa" của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để chấm dứt chương trình tối hôm nay.

NỖI NHỤC CỦA DÂN TỘC VIỆT

Dân tộc Việt vốn tự hào giống giòng Hồng Lạc với 4000 năm Văn Hiến. Trong bối cảnh tình hình đất nước ngày nay, liệu rằng niềm tự hào này còn có căn bản hay không? Mời quý thính giả theo dõi Quan Điểm "Nỗi Nhục Của Dân Tộc Việt" của Lực Lượng Cứu Quốc do Hải Nguyên trình bày:

QUÁ KHỨ Ô NHƠ TƯƠNG LAI MỊT MỜ

Trước đại hội 12 của đảng cộng sản một ngày, Cụ Rùa ở Hồ Gươm được báo chí loan tin là đã chết. Khỏi phải nói, người dân Thủ Đô có cảm tình với Cụ Rùa, được dịp bàn tán xôn xao và cho rằng đây là điềm gở gắn liền với sự kết thúc sinh mệnh chính trị của csVN. Chưa biết thực hư, đúng sai thế nào nhưng người dân thấy cái cách xử lý thông tin Cụ Rùa "từ trần" của ban Tuyên giáo đảng thông qua báo chí như: đăng tin rồi lại gỡ bài rồi sau đó lại cho đăng tin, nó cho thấy lãng đạo đảng csVN lúng túng, chao đảo tâm linh và cảm nhận được một cái kết không hề có hậu dành cho đảng csVN trong tương lai.

HOÀNG SA NỖI NHỚ KHÔNG NGUÔI

Trước thềm đại hội 12 của đảng "hèn với giặc và ác với dân" CSVN, chúng ta nghiên mình kính phục gương hy sinh cao quý, hầu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng dân tộc, của các chiến sĩ hải quân VNCH, trong trận hải chiến Hoàng Sa lịch sử. Mời quý thính giả đài ĐLSN nghe phần Bình Luận của Đặng Chí Hùng với tựa đề: "HOÀNG SA NỐI NHỚ KHÔNG NGUÔI."sẽ được Song Thập trình bày để kết thúc chương trình phát thanh DLSN tối hôm nay.

Showing posts with label Danh Nhân Nước Việt. Show all posts
Showing posts with label Danh Nhân Nước Việt. Show all posts

23.1.16

Ngọc Hân công chúa



Thứ Bảy 23.01.2016   

Kính thưa quý thính giả, Triều đình Tây Sơn ngắn ngủi nhưng lắm oai hùng và bi thương, trong đó phải kể đến mối tình của người anh hùng áo vải và một nàng công chúa. Nàng công chúa này trở thành một vị hoàng hậu nổi tiếng trong lịch sử về tài sắc vẹn toàn. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt", chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Ngọc Hân công chúa" của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để chấm dứt chương trình tối hôm nay.
                                                                     *****

Quang Trung, diệt Trịnh đến Thăng Long,

Lê Ngọc Hân, duyên thắm chỉ hồng.

Tình nghĩa nồng nàn, sao ngắn ngủi?

Nỗi thương niềm nhớ, vấn vương lòng!!!


Đó là 4 câu thơ của nhà thơ Nguyễn Lộc Yên viết để tưởng niệm Công chúa Lê Ngọc Hân.

Lê Ngọc Hân sinh ngày 25/5/1770, con thứ 9 của vua Hiển Tông (nhà Hậu Lê) và bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.

Thuở nhỏ có diện mạo thanh tú và xinh xắn, bản tánh thùy mị và dịu dàng, công chúa Ngọc Hân chưa tròn 10 tuổi đã giỏi cầm kỳ thi họa, thuộc làu kinh điển và thông thạo văn thơ chữ Hán lẫn Nôm.

Năm 1788, sau khi đại thắng quân Thanh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung và phong cho Ngọc Hân công chúa là Bắc Cung Hoàng hậu.

Nguyễn Huệ "đã yêu vì nết lại trọng vì tài", nên giao cho Ngọc Hân nhiệm vụ coi giữ các văn thư trọng yếu, phong cho chức nữ học sĩ, dạy dỗ các con cái và cung nữ. Trong thực tế, Ngọc Hân trở thành người cộng sự đắc lực, tin cẩn về lãnh vực văn hóa, giáo dục cho chồng.

Năm 1792, vua Quang Trung băng hà, Quang Toản tức Cảnh Thịnh đế lên thay, Bắc Cung Hoàng Hậu đưa con ruột ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền ở Huế, bên cạnh điện Đan Dương thờ chồng, nuôi con.

Sau khi vua Quang Trung băng hà, bà đã viết áng văn khóc chồng qua bài thơ "Ai Tự Vãn" gồm 164 câu theo thể song thất lục bát để bày tỏ nỗi đau cùng cực với lời thơ thống thiết, điển hình như các trích đoạn sau đây:

"... Buồn thay nhẽ! sương rơi gió lọt,

Cảnh điều hiu thánh thót châu sa!

Tưởng lời di chúc thiết tha,

Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê.

Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở,

Mối sầu riêng ai gỡ cho xong.

Quyết liều mong vẹn chữ tòng

Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e!

Con trứng nước thương vì đôi chút,

Chữ tình thân chưa thoát được đi.

Vậy thì nấn ná đợi khi,

Hình thì tuy ở, phách thì đã theo.

... Chữ tình nghĩa trời cao đất rộng,

Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.

Mấy lời tâm sự trước sau,

Đôi vòng nhật nghuyệt trên đầu chứng cho."

Năm 1799, vua Cảnh Thịnh bị thất thủ trước quân Gia Long - Nguyễn Ánh. Bà và hai con lẩn trốn vào nhà dân ở tỉnh Quảng Nam. Khi bị quân Nguyễn Ánh phát giác, 2 đứa con bà bị xiết cổ chết, bà uống thuốc độc quyên sinh vào ngày mùng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi, hưởng dương 29 tuổi.

Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền ở Bắc Ninh, sau đó thuê người vào Quảng Nam, lén lấy thi hài Ngọc Hân và 2 cháu ngoại về chôn.

Lễ bộ Thượng thư nhà Tây Sơn là Phan Huy Ích đã phụng chỉ soạn 5 bài văn tế Ngọc Hân cùng các con và người thân của bà cho Vua Cảnh Thịnh đọc trước linh cửu. Và bà được truy tặng danh hiệu Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Cả 5 bài văn tế được ghi chép trong sách "Dụ Am văn tập".

* * *

Trong số những công chúa thuộc các triều đại VN, Ngọc Hân công chúa là một trong những phụ nữ được các sử gia nhắc nhở khá nhiều, với tấm lòng kính trọng. Theo ghi chép trong cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí, ngay trong lần gặp mặt đầu tiên, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã rung động trước tài sắc của cô công chúa trẻ tuổi. Cũng vì thương yêu Ngọc Hân mà mà Nguyễn Huệ ủng hộ anh ruột của công chúa là Lê Duy Kỳ lên ngôi, tức vua Lê Chiêu Thống, và cũng khiến cho người anh của Ngài là vua Thái Đức – Nguyễn Nhạc bất mãn.

Thế nhưng, như cụ Nguyễn Du đã viết trong "truyện Kiều", Ngọc Hân công chúa đã không tránh khỏi số phận bi thảm vì "trời xanh quen thói má hồng đánh ghen". Trời xanh không ghen nhưng phe cánh hoàng hậu đã ra tay trả thù sau khi vua Quang Trung băng hà.

Nhưng thê thảm hơn nữa là quyết tâm tận diệt của vua Gia Long đối với những ai có dây mơ rễ má với triều đình Tây Sơn. Trước sự truy cùng đuổi tận đó, Ngọc Hân công chúa đã chọn cách tự tử để khỏi lâm vào cảnh ô nhục dưới tay quân tướng nhà Nguyễn.

Và đó có lẽ một trong những lý do mà hậu thế đã kính trọng Bà. Kính trọng một phụ nữ tuy ban đầu là bị vua cha ép gả cho Bắc Bình Vương để níu kéo quyền lực. Thế nhưng Bà đã thật lòng thương yêu người chồng đã hủy diệt triều đình Hậu Lê, mà bài ai điếu vua Quang Trung là bằng chứng hùng hồn cho tình yêu đó.

Chính vì thế, Ngọc Hân công chúa xứng đáng đi vào lịch sử của các bậc anh thư tiết liệt của dân tộc Việt./.

Việt Thái

16.1.16

Thái hậu Ỷ Lan



Thứ Bảy 16.01.2016   

Kính thưa quý thính giả,Cách đây hơn 800 năm, một nữ nhân được xem là nhân vật kiệt xuất với tài kinh bang tế thế và là một nhà Phật học nổi tiếng của Việt Nam. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn chặt với sự nghiệp của hai vị vua anh kiệt là Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Thái hậu Ỷ Lan" của Việt Thái qua giọng đọc của Bảo Trân để chấm dứt chương trình tối nay.

Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến, sinh vào mùng 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1044) tại hương Thổ Lỗi, nay thuộc xã Dương Xá huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Cha là Lê Công Thiết, mẹ là Vũ Thị Tỉnh,


Thái hậu Ỷ Lan có công rất lớn trong việc phát dương Phật giáo, bà xây hàng trăm ngôi chùa, trong đó có chùa Từ Kính. Tại đền thờ bà ở thôn Như Quỳnh còn lưu giữ đôi câu đối của danh sĩ Cao Bá Quát như sau:

Nhất bát thượng tiền duyên,

Trường ký cố hương Từ Kính tự.

Bát lăng thành quá mộng,

Bất tri hà xứ Thượng Dương cung.


Tạm dịch:

Duyên trước hâm mộ một cái bát (của nhà Phật),

Gửi lại mãi quê nhà ngôi chùa Từ Kính.

Như giấc mộng tàn tám lăng mộ (của nhà Lý),

Không biết nơi nào có cung Thượng Dương.


Thái hậu Ỷ Lan am hiểu sâu sắc về Phật học. Các thư tịch cổ còn ghi lại cuộc tọa đàm về Phật học giữa bà với các vị Đại sư tại Thăng Long vào năm 1096. Trong buổi tọa đàm này, bà đã đặt ra hàng loạt câu hỏi về Phật học để các Đại sư uyên bác ứng giải.

Ngoài những hiểu biết sâu xa về Phật học, bà Ỷ Lan còn viết một bài kệ nổi tiếng:

Sắc thị không, không tức sắc,

Không thị sắc, sắc tức không.

Sắc không câu bất quản,

Phương đắc khế chân tông.


Với bài kệ này, bà Ỷ Lan được thế giới ghi nhận là một học giả Phật học thời Lý - Trần.

Tài năng đó, đức độ đó đã khẳng định bản lãnh của phụ nữ Việt nam, đã đưa Thái Hậu Ỷ Lan vào hàng ngũ những nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, và đặc biệt là đã để lại cho hậu thế một bài học quý giá về việc xử dụng hiền tài, và khi cần thiết thì biết gác lại hiềm khích riêng tư để phục vụ cho lợi ích chung của đất nước.

Sau 3 năm sau khi tiến cung, bà Ỷ Lan hạ sinh cho vua Thánh Tông một vị hoàng tử đầu tiên đặt tên Càn Đức, tức vua Lý Nhân Tông sau này. Nhờ đó, bà được gia phong Ỷ Lan Thần Phi. Vào năm 1068, Ỷ Lan Thi Thần Phi hạ sinh thêm một hoàng tử nữa, và được phong là Ỷ Lan Nguyên Phi

Tài về chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan được thể hiện khi vua Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt mang quân đi đánh Chiêm Thành ở phía Nam vào năm 1069. Bà được vua tin tưởng giao quyền nhiếp chính.

"Trận này, vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành mãi không được, bèn rút quân về. Đến Cư Liên, vua hỏi thăm dân chúng và thấy người dân hết lời ca ngợi tài trị nước của Nguyên Phi Ỷ Lan, vua liền than thở: "Đàn bà còn làm được như thế, là nam nhi lại chẳng làm được việc hay sao?". Nói xong bèn quay lại đánh nữa và thắng trận.

Lần nhiếp chính thứ hai sau khi vua Lý Thánh Tông mất vào năm 1072. Thái Hậu Ỷ Lan đã phải lèo lái triều đình nhà Lý cứu nguy cho chủ quyền dân tộc trước sức mạnh như vũ bão của quân Tống vào năm 1076, Thái Hậu Ỷ Lan đã biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hiềm khích cá nhân, bà triệu Lý Đạo Thành về kinh làm Thái Phó Bình Chương Quân Quốc trông lo triều chính, còn Lý Thường Kiệt thì tập trung toàn quân chống ngoại xâm.

Kết quả là chiến thắng vẻ vang với trận Như Nguyệt đi vào lịch sử và bài thơ "Nam Quốc Sơn Hà" của Lý Thường Kiệt được xem là ''Bản Tuyên ngôn Độc lập'' đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Công cuộc "Phá Tống, bình Chiêm" của danh tướng Lý Thường Kiệt thành công khi vua Nhân Tông mới lên mười tuổi. Việc triều đình đều do Thái Hậu Ỷ Lan quyết định.

Ngoài những đóng góp nói trên, Thái Hậu Ỷ Lan còn sinh ra và đào tạo vua Lý Nhân Tông trở thành một minh quân cho đất nước.

Các bộ sử đều ghi lại việc đất nước phát triển phồn thịnh về mọi mặt dưới thời Lý Nhân Tông. Đặc biệt về giáo dục, vào năm 1075, triều đình cho mở khoa thi tam trường để lấy người văn học ra làm quan. Đến năm 1076, triều đình lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên và nền giáo dục Nho Học của nước Việt bắt đầu từ đó.

Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), Thái Hậu Ỷ Lan qua đời, hưởng thọ 73 tuổi, được vua Nhân Tông dâng thụy hiệu là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu.

Đền thờ chính của bà hiện ở Gia Lâm, Hà Nội. Ngôi chùa mang tên Linh Nhân Từ Phúc Tự được bà xây dựng năm 1115. Khi bà qua đời, đền thờ bà cũng được đặt tại nơi này. Hiện nay có 72 nơi lập đền thờ bà.

Bài học lớn nhất rút ra từ sự nghiệp chính trị của Thái hậu Ỷ Lan là: Vì lợi ích chung, bà đã biết gác lại hiềm khích cá nhân để huy động lực lượng nhằm chống kẻ thù xâm lược. Chiến công hiển hách của Lý Thường Kiệt ngoài mặt trận sẽ không thể có nếu như không có một hậu phương vững chắc, mà hậu phương được vững chắc là nhờ vào tài nhiếp chính của Thái Hậu Ỷ Lan.

Nhưng điều đáng nói, là trong khi lịch sử nước Tàu có những hoàng hậu hay thái hậu nổi tiếng tàn ác như Võ Tắc Thiên, Từ Hi Thái Hậu thì dân tộc Việt rất hãnh diện có được một Thái hậu Ỷ Lan một lòng vì dân vì nước.

Điều đáng buồn là giới trẻ Việt Nam hiện nay không biết nhiều về sử Việt, về Thái hậu Ỷ Lan, nhưng lại biết rõ về Võ Tắc Thiên và Từ Hi Thái Hậu qua những bộ phim Tàu được chiếu tràn lan trên đất nước, dưới âm mưu đồng hóa một cách thâm độc của Tàu Cộng và sự tiếp tay của tập đoàn lãnh đạo CSVN./.

Việt Thái

9.1.16

Hồng Hà Nữ Sĩ



Thứ Bảy 09.01.2016   

Kính thưa quý thính giả, một nhà giáo, một lương y tài đức vẹn toàn và bà được xem như ngôi sao sáng trong hàng ngũ những nữ sĩ Việt Nam. Số lượng tác phẩm của bà có giá trị nhân văn cao cả, có tư tưởng vì dân vì nước. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Hồng Hà nữ sĩ" của Việt Thái qua sự trình bày của Bảo Trân để chấm dứt chương trình tối nay.

Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, có biệt hiệu là Hồng Hà Nữ sĩ, con gái Đoàn Doãn Nghi, quê ở làng Giai Phạm, sau đổi thành Hiến Phạm, huyện Văn Giang nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Nguyên thủy bà có họ Lê, đến đời thân phụ mới đổi sang họ Đoàn.

Thân phụ bà là cụ Đoàn Doãn Nghi, hiệu là Dương Kinh, có thể xem là người khai sáng dòng họ Đoàn. Ông thi đỗ Hương Cống, nhưng chỉ lo dạy học và hành nghề y. Ông đi dạy học nhiều nơi, sau chuyển về thôn Lạc Viên, huyện An Dương, Hải Phòng.

Năm 16 tuổi, Đoàn Thị Điểm được quan Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi, đưa về kinh thành Thăng Long dạy dỗ. Vị Thượng thư có ý định tiến cử bà vào cung, nhưng bà kiên quyết từ chối.

Năm 1724, nghe tin cha bệnh nặng, bà xin phép cha nuôi về Lạc Viên phụng dưỡng cha ruột. Năm 1729, khi cha mất, anh trai của bà là Đoãn Doãn Luân đưa gia đình về làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) mở trường dạy học.

Năm 1733, Đoàn Doãn Luân qua đời, để lại mẹ già, cùng người vợ thường xuyên đau yếu và hai con còn nhỏ dại. Gánh nặng gia đình dồn lên vai một mình bà Đoàn Thị Điểm, khi đó đã gần 30 tuổi. Bà Đoàn Thị Điểm vừa lo phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy hai cháu nhỏ và lo cuộc sống cho cả gia đình. Bà vừa dạy học, vừa bốc thuốc chữa bệnh. Tiếng tăm của bà ngày càng lan rộng khắp các vùng xung quanh.

Vào giữa thế kỷ 18, xảy ra những cuộc nổi dậy của nông dân khiến làng xóm bị binh lửa tàn phá, bà Đoàn Thị Điểm lại phải đưa cả gia đình đến nhà một người học trò tại xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc để lánh nạn và sinh sống.

Bà Đoàn Thị Điểm nổi tiếng về tài văn thơ đối đáp, với nhiều giai thoại kể rằng, bà đã áp đảo các bậc anh tài trong giới sĩ phu và được xem là một nữ sĩ tài hoa, đầy bản lãnh và đầy đủ "công, dung, ngôn, hạnh" khiến nhiều người ái mộ.

Năm 1743, bà kết hôn với Tiến sĩ Nguyễn Kiều, một người góa vợ nhưng học rộng tài cao, 21 tuổi đã đỗ Tiến sĩ. Cuộc hôn nhân với Nguyễn Kiều đem lại cho bà những ngày hạnh phúc, thường cùng chồng xướng họa thơ văn. Nhưng cuộc sống lứa đôi quá ngắn ngủi, khi cưới xong chưa đầy một tháng thì Nguyễn Kiều nhận lệnh đi sứ sang Tàu, Bà ở lại quê nhà "nuôi già, dạy trẻ" suốt 3 năm liền.

Trong khoảng thời gian này, vì đồng cảm với tâm trạng của người chinh phụ, bà phiên dịch ra chữ Nôm bản "Chinh Phụ Ngâm Khúc" viết bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, cuốn "Truyện Kiều" của Nguyễn Du và "Cung Oán Ngâm Khúc" của Nguyễn Gia Thiều. Bản dịch "Chinh Phụ Ngâm" của bà được xem là tác phẩm xuất sắc nhất trong nền thi văn trung đại Việt Nam. Chính tác phẩm này đã đưa tên tuổi bà lên đỉnh cao trong nền văn học nước nhà.

Năm 1745, Nguyễn Kiều mới về nước, nhưng chưa đầy ba năm, ông lại được cử làm Tham thị ở Nghệ An. Trên đường theo chồng đến nhận nhiệm sở, bà bị cảm nặng và mất tại Nghệ An vào ngày 11 tháng 9 âm lịch năm 1748. Bà được an táng tại phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội.

                                                                       * * *

Hồng Hà nữ sĩ - Đoàn Thị Điểm là một tác giả nổi tiếng của nền văn học thời trung đại với bút pháp đa dạng, giỏi văn Hán, vừa giỏi thơ Nôm. Bà sáng tác rất nhiều, nhưng một số tác phẩm của Bà đã bị thất lạc. Ngoài bản dịch Chinh Phụ Ngâm, Bà còn là tác giả tập truyện ký, Truyền kỳ Tân phả và thơ văn câu đối chữ Hán, chữ Nôm được lưu giữ trong Hồng Hà phu nhân di văn...

Tài hoa của Hồng Hà nữ sĩ không chỉ nổi tiếng trong dân gian, mà tiếng tăm của bà cũng vang dội ở kinh đô Thăng Long. Chính vì thế, mặc dù chỉ là một nhà thơ nhưng nhiều trường học và đường phố ở khắp các tỉnh thành sau này đã lấy tên của bà nhằm vinh danh một phụ nữ đã để lại nhiều tuyệt phẩm trong nền văn học Việt Nam.

Trước năm 1975, rất nhiều bài thơ của Hồng Hà nữ sĩ đã được giảng dạy ở bậc trung học Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là thi phẩm "Chinh Oán Ngâm Khúc" mà bà chuyển sang chữ Nôm. Khác với nữ sĩ Hồ Xuân Hương đầy tinh nghịch, thơ văn của nữ sĩ Hồng Hà có lời lẽ dịu dàng và quí phái.

Nhưng có lẽ như Nguyễn Du đã viết: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen", cuộc đời của bà là một chuỗi ngày lận đận, lo toan cho đại gia đình nhiều hơn là cho cá nhân mình. Nhưng đây cũng chính là một điểm mà bà được hậu thế xưng tụng vì là tấm gương sáng chói của giới phụ nữ Việt Nam trong xã hội ngày xưa.

Bà Đoàn Thị Điểm chính là niềm tự hào của dân tộc, một dân tộc không chỉ sản sinh ra những văn thần, võ tướng rạng ngời sử xanh, mà còn có được những bậc nữ lưu tài hoa không thua kém gì nam giới./.

Việt Thái

26.12.15

Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa



Thứ Bảy 26.12.2015   

Kính thưa quý thính giả,

Một người được xem là một nhà thơ, một sĩ phu yêu nước và là một nhà khoa bảng, ông từ bỏ quan trường, cổ vũ tinh thần yêu nước, kêu gọi nghĩa sĩ đứng lên chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập cho đất nước. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa" của Việt Thái qua sự trình bày của Bảo Trân để chấm dứt chương trình tối hôm nay.

*****

Đồng Nai có bốn rồng vàng,

Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi.

Đó là hai câu ca dao truyền khẩu ở miền Nam, ca ngợi 4 nhân vật nổi tiếng, trong đó Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa.

Bùi Hữu Nghĩa còn có tên Bùi Quang Nghĩa, hiệu Nghi Chi, sinh năm Đinh Mão (1807) tại Bình Thủy, Cần Thơ. Thân phụ là Bùi Hữu Vi xuất thân từ nghề chài lưới, tuy nhà nghèo nhưng thấy con thông minh và ham học, ông đưa Bùi Hữu Nghĩa lên Biên Hòa, gửi nhờ nhà ông Nguyễn Văn Lý để theo học với ông đồ Hoành.

Sau những năm đèn sách miệt mài, Bùi Hữu Nghĩa vượt hẳn các bạn đồng học, được thầy khen bạn mến. Năm 1835, ông đỗ Thủ khoa kỳ thi hương ở Gia Định. Ít lâu sau, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Tồn, con gái của ông Nguyễn Văn Lý, người đã đùm bọc ông suốt thời gian học tập.

Ông được bổ làm tri huyện ở Phước Long (Biên Hòa), sau đó làm tri huyện Trà Vang (tức huyện Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long ngày nay).



Với tấm lòng thương dân yêu nước, căm ghét bọn quan lại tham nhũng, thối nát và bọn giàu có cậy quyền thế, ức hiếp dân lành, Bùi Hữu Nghĩa đã không ngần ngại đứng về phía kẻ yếu, bênh vực giới nông dân nghèo nên thường va chạm với người Hoa kiều và bị vu oan tội xúi giục giết người nên bị bắt giải về Gia Định với án tử hình chờ triều đình phê chuẩn.

Trước nỗi oan ức của chồng, năm 1849, bà Nguyễn Thị Tồn đã lặn lội ra tận kinh đô Huế kêu oan cho chồng. Trước Tam pháp ty, bà khua ba hồi trống "kích cổ đăng vân", thúc giục vua lâm triều, để dâng tờ sớ minh oan cho chồng. Hành động can trường, đáng kính phục của bà đã khiến cho vua Tự Đức tha tội tử hình cho Bùi Hữu Nghĩa nhưng phải tham gia quân đội, lập công chuộc tội. Lúc bấy giờ, nghe tin có người đàn bà ở đất Đồng Nai lặn lội ra kinh đô Huế minh oan cho chồng, bà Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) cho vời đến gặp. Bà Nguyễn Thị Tồn vào yết kiến và tâu qua mọi việc. Thái hậu Từ Dũ cảm động và tặng một tấm biển đề bốn chữ vàng "Liệt phụ khả gia".

Sau đó, Bùi Hữu Nghĩa bị đưa đi trấn đồn Vĩnh Thông, Châu Đốc, giáp với nước Miên. Tình hình nơi này thường xuyên không ổn định, bởi các cuộc nổi dậy chống triều đình. Trong một cuộc chạm trán, đồn Vĩnh Thông thất thủ, quan quân trong đồn bị giết và bị bắt, trong đó có Bùi Hữu Nghĩa. Nhưng do biết tiếng Bùi Hữu Nghĩa là người có tấm lòng nhân từ, quan tâm đến số phận của người nghèo khổ, trong đó có cả người Miên, nên vua Cao Miên cho thuyền đưa ông về Tịnh Biên.

Trong khoảng thời gian về quê nhà dạy học và làm thơ, Bùi Hữu Nghĩa chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược. Ngày 18-2-1859, giặc Pháp chiếm Sài Gòn. Sự kiện này là nỗi đau thống thiết chung của toàn dân, nhưng đau nhất là đến từ những sĩ phu yêu nước như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị ...

Triều đình nhà Nguyễn khi đó nhu nhược, cắt Nam Kỳ lục tỉnh cho Pháp. Trong những ngày đau thương của dân tộc, Bùi Hữu Nghĩa đã gần 60 tuổi, không thể trực tiếp tham gia nghĩa quân đánh giặc, nhưng bằng lời thơ thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, ông đã cổ vũ cho phong trào yêu nước chống Pháp.

Năm 1868, thực dân Pháp biết ông tham gia phong trào Văn Thân nên bắt giam ông ở Vĩnh Long, sau đó đưa về Gia Định. Trong thời gian bị giam, ông đã tỏ rõ khí tiết bất khuất, không để giặc mua chuộc, nên sau cùng Pháp phải thả ông về Long Tuyền.

Sau một cơn bệnh nặng, Bùi Hữu Nghĩa từ trần tại Bình Thủy, Cần Thơ, vào ngày 21 tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872), hưởng thọ 66 tuổi.

Cuộc đời của Bùi Hữu Nghĩa là cuộc đời của một nhà yêu nước nhiệt thành, một nhà tư tưởng có nhiều quan điểm tiến bộ, một vị quan cương trực, thanh liêm, bất khuất trước cường quyền. Ông một nhà thơ nổi tiếng, xứng đáng với danh hiệu "Rồng vàng" trên văn đàn Đồng Nai mà dân chúng thường truyền tụng. Ông còn một người chồng, người cha trọn nghĩa vẹn tình, một người thầy mẫu mực xứng đáng cho học sinh các thế hệ noi theo.

* * *

Sinh thời của mình, Thủ khoa Nghĩa không có những công trận hiển hách như các võ tướng triều Nguyễn. Thế nhưng đối với người dân miền Nam, đặc biệt là vùng Sài Gòn - Gia Định, ông là một vị quan trong sạch và yêu nước thương dân cho đến giờ phút cuối đời mình.

Rất tiếc là hiện nay đất nước Việt Nam nói chung, và miền Nam nói riêng, không có được một vị quan nào tốt như Thủ khoa Nghĩa. Tệ hơn thế nữa là giới quan lại cộng sản hôm nay đang cấu kết với các thương nhân Tàu Cộng để bóc lột giới nông dân một cách tàn bạo gấp trăm lần thời Thủ khoa Nghĩa.

Việt Nam bị rơi vào vòng Pháp thuộc hơn 80 năm là một bất hạnh lớn của đất nước. Thế nhưng, sau hàng triệu cái chết trong 30 năm chiến tranh Quốc - Cộng và 40 năm thống trị của tập đoàn cộng sản, cái bất hạnh nhất của dân tộc là hiện không có bao nhiêu kẻ sĩ có tấm lòng yêu nước thương dân như thế hệ Thủ khoa Nghĩa!

Một dân tộc mà ngay cả giới sĩ phu cũng "rụt rè" thì không thể than trách là tại sao đất nước bị suy thoái và lạc hậu như hôm nay!

Việt Thái

19.12.15

Hoài Quốc công Võ Tánh



Thứ Bảy 19.12.2015   

Kính thưa quý thính giả,

Lịch sử Việt Nam thời cận đại ghi lại nhiều vị tướng đã tuẫn tiết khi thành thất thủ theo quan niệm "Sinh vi tướng, tử vi thần". Trong số đó có một vị tướng trấn thủ thành Bình Định, khi thành thất thủ ông đã xin quân Tây Sơn xin tha chết cho quân sĩ trong thành và sau đó tự thiêu. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Hoài Quốc công Võ Tánh" của Việt Thái qua sự trình bày của Bảo Trân để chấm dứt chương trình phát thanh tối hôm nay.

***

Những tưởng ra tay giúp nước nhà,

Ai dè bình địa nổi phong ba.

Xót người vị quốc liều thân ngọc,

Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.

Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,

Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.

Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,

Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Đó là tám câu thơ của công chúa Ngọc Du khóc chồng khi nghe tin Võ Tánh tuẫn tiết.


Võ Tánh ra đời tại huyện Phước An, tỉnh Biên Hoà (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), sau dời về huyện Bình Dương, Gia Định. Vì không chịu thần phục nhà Tây Sơn nên từ năm 1783 đến năm 1788, ông cùng với người anh là Võ Nhàn tập hợp lực lượng nổi dậy tại thôn Vườn Trầu (Hóc Môn), tự xưng là Nghĩa quân Kiến Hòa, giương ngọn cờ Khổng Tước Nguyên Võ, chiếm giữ cả vùng Gò Công.

Năm 1788, nhận lời mời của Nguyễn Phúc Ánh, ông đến Sa Đéc hội binh, được phong là Tiên phong dinh Khâm sai chưởng cơ và được chúa Nguyễn gả em gái là Ngọc Du.

Năm 1790, Võ Tánh tiến đánh thành Diên Khánh và đánh bại tướng Tây Sơn là Đào Văn Hồ.

Năm 1793, Võ Tánh được thăng chức Bình Tây Tham Thắng Tướng Quân. Khi trấn thủ thành Diên Khánh, Võ Tánh dùng mưu đuổi quân Tây Sơn đến vây thành vào năm 1794. Sau đó ông được phong tước Quận Công và lãnh chức Đại Tướng Quân.

Năm 1797, ông theo chúa Nguyễn ra đánh Quảng Nam. Thừa thắng, ông vượt qua sông Mỹ Khê, Quảng Ngãi đánh bại Đô đốc Nguyễn Văn Giáp.

Năm 1799, ông tiến đánh Quy Nhơn. Vào cửa biển Thị Nại, Võ Tánh và Nguyễn Huỳnh Đức đánh thắng quân Tây Sơn tại Thị Giả. Đô đốc Lê Chất đầu hàng và xin làm thuộc tướng. Sau đó, ông chận đánh quân của Thái phó Tây Sơn là Lê Văn Đang tại làng Kha Đạo, bắt được 6 ngàn quân và 50 thớt voi. Các tướng Tây Sơn là Lê Văn Thanh và Nguyễn Đại Phát phải mở cửa thành Quy Nhơn xin hàng. Thành Quy Nhơn được đổi tên là thành Bình Định.

Năm 1801, khi đại quân chúa Nguyễn rút về Gia Định, thành Bình Định được giao cho Võ Tánh và Lễ bộ tham tri Ngô Tùng Châu trấn giữ. Ngay sau đó thành này bị đại quân Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy huy của Thái phó Trần Quang Diệu và tướng Võ Văn Dũng đến bao vây. Trần Quang Diệu sai đắp lũy chung quanh thành và chia quân bao vây bốn mặt kéo dài đến 14 tháng.

Võ Tánh và Ngô Tùng Châu sai người đem mật thư khuyên chúa Nguyễn kéo quân ra đánh Phú Xuân, để hai ông cùng thủ thành cầm chân quân Tây Sơn. Chúa Nguyễn nghe theo, đánh lấy được Phú Xuân vào tháng 5 năm 1801.

Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng nghe tin Phú Xuân thất thủ, liền đem quân ra cứu. Khi quân ra tới Quảng Nam thì bị chặn đường phải trở lui. Trần Quang Diệu nổi giận đốc quân ngày đêm đánh thành Bình Định.

Trong thành thiếu lương thực, Võ Tánh gửi cho Trần Quang Diệu một bức thư, xin tha chết cho quân sĩ trong thành và sai thuộc hạ lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thêm thuốc súng, rồi châm lửa tự thiêu. Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự vẫn vào ngày 7 /7/1801.

Khi chiếm được thành, xúc động trước sự trung dũng của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, Trần Quang Diệu sai người tẩm liệm thi hài hai ông tử tế và không giết hại hàng binh nhà Nguyễn.

Năm 1802, khi chúa Nguyễn chiếm được Phú Xuân, quân Tây Sơn mất Trấn Ninh, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng phải bỏ thành đi theo đường thượng đạo qua Lào về cứu vua Cảnh Thịnh. Vua Gia Long khi lên ngôi truy tặng Võ Tánh là Dực vận công thần Thái úy Quốc công. Năm 1831, vua Minh Mạng truy phong cho ông là Hoài Quốc công.

Mộ của Võ Tánh nằm trong nội cung thành Hoàng Đế của Nguyễn Nhạc, cũng là thành Đồ Bàn của vua Chăm. Tại đầu ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, hiện có ngôi đền thờ Võ Tánh mang tên là Võ Quốc Công Miếu. Trước năm 1975 tại Sài Gòn có 2 con đường mang tên Võ Tánh.

                                                                             ***

Trước năm 1975, tại miền Trung có một trường trung học rất nổi tiếng không thua gì trường Quốc Học ở Huế, lấy tên là trường Võ Tánh, tọa lạc tại thành phố Nha Trang. Cách thành phố này khoảng 10 cây số về phía nam chính là thành Diên Khánh, nơi tướng quân Võ Tánh đã có những chiến thắng lừng lẫy khi giao chiến với quân Tây Sơn.

Dù ở phe bên nào trong giai đoạn tranh quyền đoạt lực vào thời đó, Võ Tánh hay Trần Quang Diệu, đều chứng tỏ khí phách làm tướng của mình. Dù là tuẫn tiết theo thành, hay đánh chiếm thành Bình Định, cả hai đều thể hiện tấm lòng trân quý sinh mệnh của dân chúng, của binh sĩ và đặc biệt là lòng tôn kính đối với địch thủ của mình.

Chính vì thế nhắc đến Võ Tánh, người ta phải nhắc đến Trần Quang Diệu, nhắc đến việc Gia Long đã lăng trì xử tử hai vợ chồng ông sau khi đánh bại triều đình Tây Sơn. Việc trả thù dã man này của nhà Nguyễn là một vết ô nhục trong lịch sử nước Việt, nếu so với tấm lòng khoan dung bác ái của triều đình nhà Trần khi đốt toàn bộ thư xin hàng giặc Nguyên của các quan lại hèn nhát.

Thế nhưng vết ô nhục lớn nhất trong lịch sử dân tộc là sau hàng chục năm chiến tranh điêu linh, tập đoàn cộng sản sau cái gọi là "thống nhất đất nước" đã đày đọa và tiếp tục trù dập những quân dân cán chính VNCH trong những nhà tù lớn nhỏ có tên là "trại cải tạo lao động". Thê thảm hơn nữa là hơn 40 năm trôi qua, chiến dịch trả thù, phân biệt lý lịch vẫn tiếp tục diễn ra, với hàng trăm ngàn thương phế binh VNCH đang sống vất vưởng bên lề xã hội, trong khi chế độ vẫn ra rả kêu gọi "hòa hợp hòa giải dân tộc"!

Như thế thì ai bạo tàn hơn ai? Triều đình nhà Nguyễn hay triều đình cộng sản hiện nay?

Việt Thái

12.12.15

Vua Lý Nhân Tôn



Thứ Bảy 12.12.2015   

Kính thưa quý thính giả, Một vị hoàng đế nổi tiếng là một trong những vị minh quân đã trị vì Đại Việt trong vòng 56 năm từ năm 1073 đến năm 1129, lâu hơn bất cứ vị hoàng đế nào trong lịch sử Việt Nam. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Vua Lý Nhân Tôn" của Việt Thái qua sự trình bày của Bảo Trân, để chấm dứt chương trình phát thanh tối hôm nay.

Vua Lý Nhân Tông sinh ngày 22/2/1066, tại kinh đô Thăng Long (Hà Nội hôm nay). Chỉ một ngày sau khi sinh ra, ông được vua Lý Thánh Tông lập làm thái tử. Tên húy của ông là Lý Càn Đức, con trưởng của vua Lý Thánh Tông và Nguyên phi Lê thị. Năm 1072, Lý Thánh Tông hoàng đế băng hà, Lý Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi, là vị hoàng đế thứ 4 của triều đại nhà Lý.

Ông nổi tiếng là một minh quân trong lịch sử Việt Nam, là người đặt nền móng xây nền giáo dục đại học, cũng như sự thịnh trị lâu dài của triều Lý, đặc biệt là đã thành lập Quốc Tử Giám, một kiểu trường đại học, vào năm 1077. Một sự kiện đánh dấu thời kỳ trị vì của vua Lý Nhân Tông là từ năm 1075 đến năm 1076, Thái úy phụ chính Lý Thường Kiệt hai lần đánh bại quân đội hùng mạnh của nhà Tống trong chiến dịch phá Tống và chận bước tiến của quân Tống tại lũy Như Nguyệt. Các chiến tích này đã lưu danh thiên cổ.

Tuy trị vì lâu dài nhưng vua Lý Nhân Tông lại không có con trai để nối dõi. Đến cuối đời, ông nhận con của các thân vương hoàng tộc vào cung làm nghĩa tử và đích thân dạy dỗ. Ông chọn Lý Dương Hoán, con trai của Sùng Hiền hầu, làm thái tử kế vị. Sau đó Dương Hoán lên ngôi, tức vua Lý Thần Tông, cũng là một vị minh quân đã giúp triều đại nhà Lý kéo dài thời kỳ hưng thịnh.

Khi vua Lý Nhân Tông lên ngôi, nhà Tống muốn nhân lúc nhà vua còn nhỏ mang quân đánh chiếm Đại Việt. Năm 1075, trong khi nhà Tống đang điều quân ở Ung Châu chuẩn bị tiến sang đất Việt, Thái úy Lý Thường Kiệt bất ngờ tiến quân sang đánh nước Tống. Đầu năm 1076, quân của Lý Thường Kiệt đã đánh hạ 2 châu Ung, Liêm, đốt phá toàn bộ quân lương của đạo quân Tống rồi rút lui về nước. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử mà quân đội Đại Việt tấn công sang đất Tàu.

Quá tức giận, nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại quân sang xâm lược Đại Việt. Quân nhà Lý dưới sự chỉ huy của Thái úy Lý Thường Kiệt, đã chống cự và đánh bại được đạo quân hùng mạnh nhà Tống tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt. Năm 1077, Quách Quỳ chấp nhận giảng hòa và rút quân về nước.

Mặc dù đất nước đang bận giao tranh với nhà Tống nhưng triều đình vẫn rất quan tâm đến giáo dục và cơ cấu điều hành. Năm 1075, Nhân Tông mở khoa thi Tam trường, còn gọi là Minh kinh bác học, để chọn người có tài ra làm quan. Khoa thi này cũng là khoa thi đầu tiên ở Đại Việt và chỉ chọn 10 người, với thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Lê Văn Thịnh về sau giữ chức Thái sư kiêm Hàn lâm học sĩ.

Một điểm đáng nói hơn nữa là Phật giáo dưới thời vua Lý Nhân Tông tiếp tục phát triển cực mạnh. Nhà vua ban thưởng nhiều quyền hành, đặc biệt phong nhà sư Khô Đầu làm Quốc sư, tuy nhiên chỉ giới hạn trong việc cố vấn nhà vua về các vấn đề quốc gia đại sự.

Sau cuộc chiến vào năm 1077, triều đình nhà Tống tỏ ra e dè trước sức mạnh của Đại Việt và triều đình nhà Lý, nên đẩy mạnh các mối bang giao giữa hai nước.

Ngày 15/1/1128, vua Lý Nhân Tôn băng hà ở điện Vĩnh Quang, trị vì 56 năm, thọ 63 tuổi. Nội vũ vệ Lê Bá Ngọc tuyên đọc chiếu chỉ và giúp hoàng đế nhỏ tuổi trị quốc, cùng với các đại thần Dương Anh Nhĩ, Mâu Du Đô. Thái tử Lý Dương Hoán lên nối ngôi, tức là Thần Tông Nhân Hiếu hoàng đế.

Là một người có văn tài, vua Lý Nhân Tông cũng để lại nhiều tác phẩm, nhưng hiện chỉ lưu truyền được 3 bài thơ, một vài bức thư gửi triều đình nhà Tống, bốn bài hịch tướng sĩ và một số chiếu chỉ.

Bài chiếu được xem là hay nhất là bài "Lâm chung di chiếu" (Chiếu để lại lúc mất). Đây là bài văn biểu lộ rõ phong cách của nhà vua, cho thấy tấm lòng nhân hậu, cao cả, không muốn lạm dụng địa vị cao sang để phiều nhiễu dân; luôn mang ý nguyện giúp "trăm họ được yên", "bốn bể yên vui, biên thùy ít loạn".

Sử gia Phan Huy Chú ghi nhận vua Lý Nhân Tông cũng là một vị vua khổ luyện, phấn đấu đạt đến độ "học thức cao minh, hiểu sao đạo lý" . Chính vì vậy, đánh giá tổng quát về ông, các sử gia đời sau, từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn v.v... đều nhận định ông là một vị "minh quân", không chỉ của riêng triều Lý mà còn là nhiều triều đại nước Việt.

* * *

Đọc lại lịch sử Việt, không ai là không cảm thấy ngậm ngùi khi nghĩ đến vận mệnh của đất nước. Là một quốc gia "vốn xưng nền văn hiến đã lâu", dân tộc Việt đã xuất hiện hàng loạt minh quân, văn thần, võ thánh liên tiếp xuất hiện, mang lại nền thịnh trị an lạc đến độ khiến cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc phải nhiều lần từ bỏ dã tâm xâm lược VN.

Thế nhưng gần 200 năm qua, đất nước lại chìm đắm trong vòng suy vi, điên đảo, thiếu vắng những người "yêu nước thương dân" như vua Lý Nhân Tông. Tệ hơn thế nữa là sau 70 năm bị triều đình cộng sản cai trị, các giềng mối xã hội và con người VN không chỉ bị hủy diệt gần như tận gốc. Nếu nhìn từ trên xuống dưới chỉ thấy nhung nhúc những con sâu bọ đang đục khoét tài nguyên và múa may quay cuồng như những tên hề trên sân khấu.

Không hiểu là nếu sống lại, vua Lý Nhân Tông sẽ có cảm tưởng như thế nào khi đất nước Đại Việt đang từng bước trở thành một chư hầu của đế quốc Hán cộng?

Việt Thái

5.12.15

Trinh Thục Công Chúa



Thứ Năm 05.12.2015   

Kính thưa quý thính giả, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt đã ghi lại nhiều bậc anh thư, kiên cường chiến đấu trong tinh thần bất khuất như bà Trưng, bà Triệu, cô Giang, cô Bắc... và không ai có thể phủ nhận được tấm lòng trung trinh tiết hạnh với sức chịu đựng bền bỉ và đức tính cần cù nhẫn nại của các bà mẹ Việt Nam, điển hình như bà Tú Xương, bà Sương Nguyệt Ánh... và không ít người trong số đó đã trở nên bất tử với cái chết trung liệt được người đời sau kính trọng.Trong tiết mục "Danh Nhân Nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gởi đến quý thính giả bài "Trinh Thục Công Chúa" của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.


Từ ngàn xưa, dân gian VN vẫn lưu truyền hai câu thơ lục bát, như là lời giáo huấn của cha ông:

"Trai thời trung hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình."

Rất nhiều phụ nữ Việt Nam chẳng những gìn giữ tiết hạnh mà còn đặt nặng hai chữ trung hiếu đối với đất nước khi tổ quốc lâm nguy. Những tấm gương hào hùng của các anh thư được hậu thế kính phục cả về tài ba lẫn đức hạnh, trở thành những tấm gương sáng cho hậu thế, nhất là giới trẻ Việt Nam noi theo, điển hình như Trinh Thục công chúa.

Trinh Thục công chúa tên thật là Thục Nương, con của Hào trưởng Vũ Công Chất và bà Hoàng Thị Mầu, sinh sống tại châu Bạch Hạc. Thục Nương có nhan sắc như hoa Phù Dung, thông minh lanh lợi, năm 16 tuổi đã biết đi roi múa quyền, cưỡi ngựa săn bắn.

Nghe tiếng đồn, Phạm Lang (con một hào mục ở Nam Chân) tuổi ngoài hai mươi, tinh thông văn võ, đã đến cầu hôn và được gia đình Thục Nương chấp nhận. Sau ngày đính hôn, Thục Nương ở nhà lo thêu thùa, dệt vải, chờ mùa thu sẽ sang sông làm vợ Phạm Lang.

Thấy sắc đẹp của Thục Nương, Thái thú Tô Định ép Vũ Công Chất gả nàng cho hắn. Khi Vũ Công Chất từ chối, Tô Định nổi giận giết chết hai vợ chồng ông, sau đó còn giết luôn cả hai cha con Phạm Lang, đồng thời vây bắt Thục Nương để mang về phủ. Thục Nương phá vòng vây thoát ra khỏi Nam Chân, cải trang thành ni cô sống trong một ngôi chùa ở huyện Tiên La, chờ ngày trả thù nhà.

Thục Nương được dân chúng trong huyện thương mến, và với bản lãnh của mình, nàng đã giúp cho huyện Tiên La ngày càng phồn thịnh, chiêu mộ được hơn ngàn nghĩa binh đứng lên khởi nghĩa, xưng danh là Bát Nàn, và ngôi chùa cũng trở thành bản doanh chỉ huy của Thục Nương.

Cùng thời điểm này, tại huyện Mê Linh, hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị vì hận nước thù nhà cũng đứng lên dựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ anh hùng hào kiệt đứng lên lật đổ ách thống trị bạo tàn của quân Nam Hán. Hai bà Trưng cảm phục khi nghe tin Bát Nàn thắng giặc nhiều trận, liền cho sứ giả đi mời gọi và được Bát Nàn về đầu quân dưới trướng. Bát Nàn được phong làm đại tướng quân thống lãnh quân tiền đạo.

Sau lễ nhận cờ lệnh tại Hát Môn, đoàn quân của Bát Nàn tiến đánh thành trì quân xâm lược và thắng nhiều trận liên tiếp khiến quân Nam Hán kinh hoàng mỗi khi thấy cờ hiệu của Bát Nàn đại tướng quân. Đại tướng Bát Nàn sau đó được Trưng Vương phong là Trinh Thục công chúa.

Cuộc khởi nghĩa năm 40 (Canh Tý) của Hai Bà Trưng đã làm rúng động cả triều đình nhà Hán. Hai năm sau, với tham vọng thôn tính Giao Chỉ một lần nữa, Mã Viện chỉ huy 2 vạn đại quân, từ Hồ Nam mở đường xẻ núi tiến đánh nước Nam.

Năm 43 (Quý Mẹo), sau khi đánh 4 mặt trận đẫm máu, đạo binh của Bát Nàn chém chết tướng giặc là Bình Hầu Hán Vũ tại địa danh Lãng Bạc. Nhưng sau đó, Hai Bà Trưng bị Mã Viện dùng thế gọng kềm mang quân vây hãm, nên phải lui binh về Kim Khê trấn thủ. Khi Mê Linh thất thủ, các nữ tướng chỉ huy đều nhảy xuống ngã ba sông Hồng và sông Hát tuẫn tiết, trong đó có Bát Nàn.

Để ghi nhớ công ơn của Bát Nàn, người dân lập đền thờ bà ở Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ) và Tiên La (Quỳnh Phụ, Thái Bình).

* * *

Gần hai ngàn năm đã trôi qua kể từ sau cuộc khởi nghĩa Mê Linh của Hai Bà Trưng, nhưng dòng máu quật cường của dân tộc vẫn tiếp tục luân chảy trong giới anh thư nước Việt, điển hình như Nhụy Kiều tướng quân - Triệu Thị Trinh của 200 năm sau và hàng loạt phụ nữ đang dấn thân vào cuộc đấu tranh tại VN hiện nay.

Có thể nói là dưới trướng của Hai Bà Trưng có hàng chục nữ tướng hào hùng và lẫm liệt, trong số đó có Trinh Thục công chúa. Tên tuổi của những bậc anh thư này đã mãi mãi đi vào dòng lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc trước các đạo quân binh hùng tướng mạnh đến từ phương Bắc. Mặc dù họ đã thất trận, đã tuẫn tiết để khỏi rơi vào tay giặc, nhưng ý chí quật cường và lòng yêu nước của họ vẫn là những tấm gương sáng chói cho đời sau.

Một trong những tấm gương đó là dù biết rằng mình "thế yếu sức nhỏ" nhưng vẫn kiên quyết vùng lên đánh đuổi lũ giặc xâm lược, khiến cho triều đình nhà Hán phải khiếp sợ. Chỉ một tấm gương này thôi cũng khiến cho thế hệ Việt tộc phải lấy làm xấu hổ trước thái độ khiếp nhược của tập đoàn cộng sản hiện nay trước sự hung hăng hiếu chiến của quân Trung Cộng. Hàng ngàn ngư dân VN bị hiếp đáp, bị tấn công cướp bóc hàng ngày trên Biển Đông, thậm chí là bị giặc Tàu bắn chết, nhưng cả bộ máy tuyên truyền của chế độ chỉ gọi là "tàu lạ" hay "người lạ" chứ không nêu đích danh là lũ giặc Trung Cộng.

Chính vì thế, câu hỏi đặt ra ở đây là phải có thêm bao nhiêu ngư dân Việt bị giặc Tàu bắn giết ở Biển Đông mới được xem là "nợ nước thù nhà"? Và phải có thêm bao nhiêu giàn khoan hay chiến hạm Trung Cộng áp sát vào bờ biển VN thì mới nhận thức rõ ràng là tập đoàn cộng sản đang dẫn dắt đất nước vào một thời kỳ Bắc thuộc mới?

28.11.15

Đô Đốc Đặng Tiến Đông


Thứ Bảy 28.11.2015   


Kính thưa quý thính giả,

Theo sử Việt, các danh tướng Tây Sơn là những người cầm quân xông pha nơi tuyến đầu, anh dũng chiến đấu oanh liệt, quên mình vì đại nghĩa "cứu dân cứu nước". Trong số đó, có một vị tướng chỉ huy tượng binh và kỵ mã đánh chiếm thành Thăng Long, làm cho tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự vẫn và Tôn Sĩ Nghị phải bỏ chạy về Tàu. Trong tiết mục "Danh nhân nước Việt" tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài "Đô đốc Đặng Tiến Đông" của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để chấm dứt chương trình tối hôm nay.


                                                              ***

Thành Nam xác giặc mười hai đống,

Ngời sáng anh hùng đại võ công.

Đó là hai câu thơ trong bài "Loa Sơn điếu cổ" của danh sĩ Ngô Ngọc Du, người chứng kiến trận đại thắng của Đô đốc Đặng Tiến Đông khi tiến chiếm thành Thăng Long vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu.

Đặng Tiến Đông còn có tên là Đặng Tiến Giản, sinh ngày 18/6/1738 tại xã Phúc Thịnh, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông thuộc chi trưởng dòng họ Đặng, gốc ở làng Lương Xá, là con trai thứ tám của Quận công Đặng Tiến Cẩm và bà Phạm Thị Yến.

Năm 9 tuổi, Đặng Tiến Đông bắt đầu theo học thầy Doãn Xá tại chùa Thủy Lâm. Năm 11 tuổi, mồ côi cha. Mười năm sau mẹ ông cũng qua đời.

Năm 1763, Đặng Tiến Đông thi võ đỗ Tạo sĩ và ra làm quan. Năm 1782, con trưởng chúa Trịnh Sâm là Trịnh Khải dựa vào quân Tam Phủ giành lại ngôi chúa từ tay em là Trịnh Cán. Sau khi giết Phụ chính Hoàng Đình Bảo và bắt Tuyên phi, quân Tam Phủ lùng bắt các quan họ Đặng và họ Hoàng. Anh của Đặng Tiến Đông là Đặng Đình Thiệu cùng 30 người họ Đặng Khác hộ tống Tuyên phi bỏ trốn, bị Trịnh Khải bắt được và đem xử chém tại xã Nghi Kiều thuộc tỉnh Nghệ An. Để tránh sự truy quét của chúa Trịnh Khải, Đặng Tiến Đông phải bỏ chức quan đi lánh nạn.

Những năm cuối đời chúa Trịnh, ở Đàng Ngoài triều đình Lê - Trịnh đổ nát, trong khi đó ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan chuyên quyền, phong trào Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn.

Đến giữa năm 1786, lấy danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh", Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, qua năm sau thì Đặng Tiến Đông đến đầu quân dưới trướng Nguyễn Huệ. Ông được Nguyễn Huệ ban cho ấn kiếm, giao cho thống lãnh đại quân.

Cuối năm 1788, theo lời cầu xin của Lê Chiêu Thống, vua Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng tên Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về lại Thăng Long.

Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy rút quân về lập phòng tuyến ở dãy núi Tam Điệp - Biện Sơn để cố thủ. Lúc bấy giờ, Đô đốc Đặng Tiến Đông đang trấn thủ xứ Thanh Hóa, ngày đêm lo lập phòng tuyến trên địa phận và hải phận do mình cai quản.

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân, đại quân của vua Quang Trung đã ra đến Tam Điệp. Ngài chia quân ra làm 5 đạo, giao cho Đô đốc Đông chỉ huy một đạo gồm tượng binh và quân kỵ mã.

Từ Tam Điệp, Đô đốc Đông chuyển quân theo con đường thượng đạo qua Phố Cát, ra Thiên Quan, xuyên qua Chương Đức, đến làng Nhân Mục rồi rẽ ngang sang Khương Thượng tiến đánh quân Thanh do Sầm Nghi Đống chỉ huy đóng tại khu chùa Bộc, cạnh Đống Đa.

Ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu, trận đánh diễn ra chớp nhoáng lúc trời chưa sáng. Tướng Sầm Nghi Đống thua trận phải thắt cổ tự vẫn ngay tại đài chỉ huy ở Loa Sơn.

Ngay sau đó, Đô đốc Đông dẫn quân tiêu diệt quân Thanh trong đồn Nam Đồng, rồi tiến nhanh về phía cửa Tây thành Thăng Long. Ở cung Tây Long, thấy khói lửa rực trời, Tôn Sĩ Nghị biết quân Thanh thất trận, liền lên ngựa lẻn qua cầu phao bắt ngang sông Hồng, nhắm hướng Bắc mà trốn chạy.

Văn thần Phan Huy Ích trong "Tông đức thế tự bi" đã mô tả lại hình ảnh oai hùng của Đô đốc Đặng Tiến Đông lúc ấy như sau: "Ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm".

Trưa ngày hôm đó, vua Quang Trung cùng với đại quân tiến vào kinh thành dưới sự đón chào của Đô đốc Đông. Bài văn bia còn ghi chép việc vua Quang Trung ban thưởng cho Đô đốc Đông: "Vũ Hoàng Đế vào Thăng Long, tiến hành khen thưởng, ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn, phàm các khoản binh phân, hộ phân, sưu sai đều cho miễn trừ".

Sau khi đánh tan quân ngoại xâm, Đô đốc Đông tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình. Vua Quang Trung phong cho ông chức Vệ Quốc Thượng Tướng Quân, trấn thủ hai xứ Thanh Hóa và Nghĩa An (tức trấn Nghệ An). Ông giữ chức vụ này từ cuối năm 1787 cho đến đầu năm 1790.

Bên cạnh việc quân cơ, ông còn lo việc biên soạn "Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục" (6 quyển). Gia phả này không chỉ ghi chép dòng họ Đặng mà còn mô tả các sinh hoạt chính trị của Đại Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18.

Đô đốc Đặng Tiến Đông qua đời vào những năm đầu triều vua Cảnh Thịnh. Lăng mộ ông được xây dựng ở xứ Đồng Trê, nay thuộc thôn Đầm Dền, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.

                                                                        * * *

Lịch sử nước Việt không chỉ trải dài gần 5 ngàn năm, mà còn lưu danh hàng ngàn văn thần võ tướng lỗi lạc mà tên tuổi của họ đã được hậu thế vinh danh bằng cách đặt tên cho các con đường trên toàn quốc.

Điều buồn cười là tại những thành phố lớn như Sài Gòn và Hà Nội, giới quan chức cộng sản hiện nay lại than vãn là không có đủ danh nhân nước Việt để đặt tên cho các con đường, trong khi bất cứ trang sử Việt nào cũng ghi chép ít nhất về một văn thần hay danh tướng như Đô đốc Đặng Tiến Đông.

Tệ hơn thế nữa là, không hiểu vì dốt sử, hay vì nhận lệnh từ Trung Cộng, mà tập đoàn cộng sản VN đang có ý định dẹp bỏ môn sử Việt. Hành động này đã chứng minh rõ rệt là đất nước đang bị lũ người cộng sản luôn ra rả tự xưng là "yêu nước" nhưng lại cố tình hủy diệt tận gốc truyền thống tự chủ và văn hóa ngàn đời của dân tộc!

Việt Thái